Các bệnh đường hô hấp thường gặp khi thời tiết giao mùa
Lượt xem: 550
Khi thời tiết thay đổi đột ngột, quá nóng hay quá lạnh, hay khi thời tiết chuyển mùa là thời điểm dễ phát sinh bệnh nhất, đặc biệt những căn bệnh về đường hô hấp mà thường gặp nhất ở trẻ em và người già hay người có nhiều bệnh nền, giảm sức đề kháng.

Trẻ em đến khám bệnh tại Phòng khám Nhi, BVĐK tỉnh

Tại Phòng khám NhiBệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng những ngày qua luôn trong tình trạng rất đông bệnh nhi đến khám và điều trị liên quan đến các bệnh đường hô hấp. Trung bình mỗi ngày, Bệnh viện tiếp nhận khoảng 60 -70 bệnh nhi đến khám bệnh.

 Các bệnh hô hấp như viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi, hen suyễn... nếu không được chẩn đoán, xử trí và điều trị kịp thời, có thể gây rất nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí có nguy cơ tử vong. Do vậy, việc phòng bệnh đường hô hấp khi thời tiết thay đổi đột ngột rất quan trọng nhằm ngăn ngừa tối đa mức tăng nặng của bệnh và biến chứng nguy hiểm có thể gặp phải. Sau đây là một số bệnh  đường hô hấp thường gặp khi thời tiết giao mùa và cách phòng bệnh.

 Viêm phế quản

 Phế quản là một phần của hệ hô hấp, có nhiệm vụ dẫn khí vào phổi. Viêm phế quản xảy ra khi đường hô hấp trong phổi bị viêm và tạo ra quá nhiều chất nhầy. Khi đường dẫn khí bị nhiễm trùng, niêm mạc phế quản bị phù nề, sung huyết, bong các biểu mô phế quản, tạo nhiều đờm mủ bao phủ niêm mạc phế quản, khó thông khí dẫn đến khó thở. 

Viêm phế quản được chia thành 2 thể là cấp tính và mạn tính:

 Viêm phế quản cấp tính: Ở giai đoạn cấp tính, tình trạng viêm nhiễm xảy ra ở niêm mạc phế quản chưa có sự tổn thương. Thông thường, nguyên nhân gây bệnh là do vi rút.

 Viêm phế quản mạn tính: Đây là giai đoạn phát triển xấu đi của thể cấp tính. Ở giai đoạn này, ống phế quản sẽ liên tục bị kích thích, từ đó dẫn đến các biến chứng bệnh nguy hiểm (đặc biệt là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính). Viêm phế quản mạn tính có thể kéo dài trong thời gian dài (từ vài tháng đến vài năm). Mức độ ảnh hưởng ở giai đoạn mạn tính nghiêm trọng hơn cấp tính nhiều lần.

Các triệu chứng của viêm phế quản bao gồm: ho kéo dài, ho ra chất nhầy, thậm chí có lẫn máu; mệt mỏi; khó thởthở khò khè; sốt; tức ngực... Diễn tiến viêm phế quản thường lành tính tự khỏi sau 5 - 7 ngày. Tuy nhiên, triệu chứng viêm phế quản có thể nặng nề, kéo dài hoặc xuất hiện trên cơ địa có sẵn các bệnh mạn tính.

Viêm tiểu phế quản

Là bệnh viêm nhiễm cấp tính của các phế quản kích thước nhỏ, có đường kính dưới 2mm hay còn gọi là các tiểu phế quản. Viêm tiểu phế quản thường là do vi rút, đứng hàng đầu là vi rút hợp bào hô hấp, chiếm 30 - 50% các trường hợp mắc bệnh. Viêm tiểu phế quản là bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ, nhất là 3 - 6 tháng tuổi. Khi mắc bệnh, các phế quản nhỏ này bị viêm, sưng phù, tiết nhiều dịch làm cho đường thở của trẻ bị chít hẹp thậm chí tắc nghẽn. Các bậc cha mẹ không được chủ quan khi thấy trẻ có những dấu hiệu như ho, chảy nước mũi trong, sốt vừa hoặc cao. Sau từ 3 - 5 ngày thì trẻ ho ngày một nhiều, xuất hiện thở khó, thở rít. Những trường hợp nặng thì tím tái, thậm chí ngừng thở, trẻ bỏ bú, tím tái. Bệnh có triệu chứng tương tự hen suyễn. Thông thường, trẻ sẽ khò khè kéo dài khoảng 7 ngày, ho giảm dần trong khoảng 14 ngày rồi khỏi hẳn nếu được chăm sóc tốt. Tuy nhiên, trong khoảng 1/5 trường hợp, bệnh có thể kéo dài nhiều tuần.

Biến chứng thường gặp của bệnh viêm tiểu phế quản là suy hô hấp, viêm phổi (do dễ bị bội nhiễm), xẹp phổi, viêm tai giữa. Cần lưu ý là bệnh có thể sẽ nặng, kéo hơn, nhiều biến chứng và tử vong cũng cao hơn trong các trường hợp sau: trẻ dưới 3 tháng tuổi, trẻ sinh non - nhẹ cân, trẻ suy dinh dưỡng nặng, trẻ có sẵn bệnh tim, phổi, suy giảm miễn dịch. Đây là những trẻ có yếu tố nguy cơ cần được cho nhập viện sớm khi bị viêm tiểu phế quản. Ngoài ra, bệnh cũng có khả năng tái phát. Trẻ bị viêm tiểu phế quản sẽ là yếu tố gây bệnh hen phế quản sau này.

Hen phế quản

Hen phế quản còn gọi là hen suyễn hay bệnh suyễn là một bệnh lý viêm mạn tính của phế quản, gây khó thở rít, ho, tức ngực từng đợt tái diễn, thường bị tắc nghẽn đường thở có thể tự hồi phục hoặc do điều trị. Quá trình viêm này hay kèm theo tăng tính phản ứng phế quản với nhiều tác nhân kích thích gây co thắt phế quản. Phấn hoa, hóa chất, bụi sinh vật, nấm, mốc, vi khuẩn, bụi vô cơ... là nguyên nhân đầu tiên khiến những người có cơ địa dị ứng, nhất là bệnh nhân hen tái phát hoặc phát bệnh. Bên cạnh đó, do độ ẩm không khí cao, khả năng đề kháng của cơ thể giảm... cũng khiến cho bệnh hen phế quản trong mùa xuân cao hơn hẳn so với các mùa khác.

Viêm phổi

Người bệnh viêm đường hô hấp trên, tác nhân gây viêm dễ lan xuống cơ quan hô hấp dưới, dẫn tới viêm phổi. Đây là tình trạng viêm ở phổi thường do vi khuẩn, virut, nấm hoặc các tác nhân khác gây ra. Viêm phổi là vấn đề đặc biệt đáng lo ngại đối với người cao tuổi, người có bệnh mạn tính hoặc bị suy giảm miễn dịch, nhưng cũng có thể xảy ra ở người trẻ khỏe. Đây cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em trên toàn thế giới.

 Một số triệu chứng của viêm phổi: Sốt nhẹ hoặc cao có thể là dấu hiệu của bệnh viêm phổi. Khó thở: Sưng phổi liên quan với viêm phổi có thể làm cho việc thở khó khăn hơn. Tình trạng sưng phổi ở bệnh nhân bị viêm phổi cũng có thể dẫn đến tình trạng ho nhiều. Nhiều bệnh nhân còn ho ra đờm hoặc lẫn máu. Ớn lạnh cơ thể có thể xảy ra vào lúc người bệnh bắt đầu bị nhiễm trùng, kể cả nhiễm trùng phổi. Nhức đầu có thể được kết hợp với sốt là tình trạng mà một số bệnh nhân viêm phổi thường gặp phải. Bất cứ tình trạng viêm nào trong cơ thể cũng có thể gây đau và đau ngực có thể là dấu hiệu của bệnh viêm phổi. Tình trạng khó thở, mệt mỏi và kiệt sức có thể xảy ra nếu bạn tập thể dục trong khi bạn bị viêm phổi. Đổ mồ hôi có thể do sốt cao. Bởi vậy, người bị viêm phổi cũng có thể gặp triệu chứng này, thậm chí kèm theo biểu hiện tăng nhịp thở và nhịp tim.

 Khi có dấu hiệu viêm phổi, người bệnh cần đi khám bác sĩ chuyên khoa hô hấp để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

 Cảm cúm

 Vi rút cúm thuộc nhóm Orthomyxoviridae và được chia thành 3 típ A, B và C nhưng tùy loại và có thể gây thành dịch hay không. Bệnh cúm là bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao và lây truyền nhanh, có thể gây thành dịch. 

 Bệnh lây lan qua đường hô hấp, qua không khí giọt nhỏ qua các giọt nhỏ nước bọt hay dịch tiết mũi họng của bệnh nhân có chứa vi rút cúm qua ho, hắt hơi. Vi rút vào cơ thể qua đường mũi họng. Trong điều kiện giao mùa, thời tiết lạnh và ẩm thấp, tế bào đường hô hấp của người dễ bị tổn thương, làm tăng tính cảm nhiễm với bệnh.

 Cảm cúm là bệnh nhiễm vi rút cấp tính đường hô hấp với các biểu hiện như: sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho, triệu chứng ho thường nặng và kéo dài. Có thể kèm theo các triệu chứng đường tiêu hóa như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, nhất là ở trẻ em.

 Thời gian ủ bệnh thường từ 1 tới 4 ngày, bệnh có thể bắt đầu trước sốt 1 ngày và kéo dài tới 7 ngày ở người lớn, thậm có thể là nhiều tháng nếu người bị suy giảm miễn dịch mắc bệnh.

 Mọi người đều có khả năng cảm nhiễm cao với bệnh. Tỷ lệ cảm nhiễm với các chủng vi rút cúm mới rất cao, có thể lên tới 90% cả người lớn và trẻ em. Trẻ em, người cao tuổi, người đang mắc các bệnh mạn tính, suy giảm miễn dịch thường dễ cảm nhiễm hơn những người khác. Ở trẻ em và người lớn tuổi, người mắc bệnh mạn tính về tim phổi, thận, bệnh chuyển hóa, thiếu máu hoặc người có suy giảm miễn dịch, bệnh có thể diễn biến nặng hơn như viêm tai, viêm phế quản, viêm phổi, viêm não có thể dẫn đến tử vong.

 Các bệnh đường hô hấp do virus cúm gây ra rất khó phân biệt với các bệnh do các tác nhân khác gây bệnh đường hô hấp. Cảm cúm thường sẽ lây qua đường hô hấp, trực tiếp qua giọt bắn khi bệnh nhân hắt hơi hay gián tiếp khi tiếp xúc qua tay rồi đưa lên mắt, mũi, miệng. Vì thế vào thời điểm giao mùa này bạn nên tránh tiếp xúc gần với những người bệnh đã mắc cảm cúm để tránh lây bệnh.

 Viêm mũi xoang cấp

 Viêm xoang cấp là tình trạng viêm nhiễm một hoặc nhiều xoang, bao gồm xoang hàm, xoang sàng và xoang trán. Nguyên nhân có thể do trẻ nhiễm virut đường hô hấp trên, dị ứng hoặc nhiễm nấm. Viêm xoang dễ nhận biết qua các dấu hiệu như ngạt mũi, sổ mũi, hắt hơi nhiều, nước mũi ban đầu trong, chuyển sang trắng đục, màu xanh hoặc vàng ngà, đau ở hốc mắt...

 Viêm thanh quản

 Viêm thanh quản là tình trạng dây thanh âm bị sưng dẫn đến khản hoặc mất giọng. Bệnh có thể xuất hiện đột ngột ngay sau khi ăn thực phẩm lạnh, tắm nước lạnh, luồng khí lạnh của điều hòa phả vào vùng đầu, mặt, cổ.

 Viêm thanh quản là bệnh phổ biến ở nhiều đối tượng, cả trẻ em và người lớn. Nguyên nhân gây bệnh do vi khuẩn, vi rút hoặc nấm. Nếu không được điều trị đúng cách và kịp thời, viêm thanh quản có thể gây biến chứng nguy hiểm cho người bệnh.

 Ở trẻ em, viêm thanh quản cấp thường gặp ở trẻ từ 1 - 6 tuổi, niêm mạc thanh quản và tổ chức dưới niêm mạc dễ bị viêm nhiễm, phù nề dẫn đến khó thở ở trẻ nhỏ. Nguyên nhân hay gặp gây viêm thanh quản cấp ở trẻ em thường do: lạnh, do trẻ khóc nhiều hoặc nói nhiều kết hợp với các yếu tố môi trường, vi rút hoặc vi khuẩn gây bệnh.

 Thông thường, trẻ bị viêm thanh quản cấp thường có triệu chứng: Sốt cao hoặc sốt nhẹ, khóc khàn hoặc khàn tiếng, ho, thở rít. Các triệu chứng thường nặng hơn khi về ban đêm.

 Viêm họng

 Tình trạng nhiễm trùng, nhiễm khuẩn tại lớp niêm mạc và các tổ chức dưới niêm mạc họng gọi là viêm họng. Bệnh hình thành do sự tấn công của các loại virus và vi khuẩn. Trong đó, tỷ lệ người mắc bệnh do virus cao hơn so với vi khuẩn. Đối tượng dễ mắc bệnh nhất là trẻ em do hệ thống miễn dịch vẫn chưa hoàn thiện.

 Một số triệu chứng người mắc viêm họng thường gặp phải là sốt cao, thường dao động từ 380c - 390c; Cổ họng khô rát, đau khi ăn uống, thậm chí là nuốt nước bọt; Giọng khàn, nặng hơn có thể mất tiếng; Ho khan, ho có đờm kéo dài.

Viêm họng nếu không can thiệp điều trị có thể dẫn đến nhiều bệnh lý hô hấp nguy hiểm khác như áp xe thành họng, viêm mũi…

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) một tình trạng bệnh lý ở phổi, với sự giới hạn thông khí không thể hồi phục hoàn toàn, gây nên tình trạng tắc nghẽn lưu thông khí, gia tăng lượng khí cặn trong phổi làm bệnh nhân khó thở. Thời tiết lạnh là một trong các nguyên nhân gây ra các cơn khó thở cấp của bệnh.

Một số biện pháp phòng bệnh viêm đường hô hấp

Để hạn chế các bệnh hô hấp khi thời tiết giao mùa, một số biệp pháp nhằm giảm thiểu nguy cơ phát bệnh có thể áp dụng sau đây:

Giữ ấm cơ thể: Đối tượng cần chú ý nhất là ở trẻ em và người già, nếu phải ra ngoài cần tránh bị ướt, khi ướt mưa thì khi về nhà nên tắm ấm ngay. Dùng các thức uống ấm như trà, súp, cháo giúp tăng nhiệt độ trong cơ thể.

Vệ sinh cá nhân, mũi họng, thường xuyên rửa tay: Vệ sinh cá nhân quan trọng để phòng bệnh, trong đó chú trọng đến vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng nước muối pha loãng. Để phòng bệnh liên quan đến đường hô hấp mỗi sáng hoặc tối nên súc miệng bằng nước muối ấm pha loãng.

Luôn rửa tay trước ăn và sau khi đi vệ sinh, sau khi hắt hơi hay khi tiếp xúc với nhiều người hay người đang bị cảm… Nên che miệng khi ho và hắt hơi để tránh lây nhiễm cho người xung quanh.

Hạn chế tiêu thụ chất cồn và thuốc lá: Chất cồn làm cơ thể bị mất nước và là nguyên nhân khiến hệ miễn dịch bị suy yếu. Thuốc lá vô cùng nguy hiểm đối với cơ quan hô hấp, 80% các trường hợp ung thư phổi có liên quan đến thuốc lá, khói thuốc lá chứa 7.000 chất độc hóa học trong đó có hàng trăm chất cực độc và ít nhất 70 chất có thể gây ung thư…

Cung cấp đủ nước cho cơ thể: Đủ nước sẽ giúp duy trì thân nhiệt ổn định, loại bỏ các độc tố trong cơ thể. Nhu cầu trung bình hàng ngày cơ thể cần khoảng 2 lít nước, cần nhiều hơn khi làm việc trong môi trường nhiệt độ cao, khi chơi thể thao, hay khi bị tiêu chảy

Bổ sung vitamin C: Có thể bổ sung vitamin C qua hình thức thuốc hay các thực phẩm giàu vitamin C trong chế độ ăn hàng ngày. Vitamin C giúp củng cố sức mạnh cho hệ thống miễn dịch của cơ thể.

Ngủ đủ giấc: Giấc ngủ giúp tái tạo sức khỏe sau một ngày dài làm việc. Người trưởng thành cần giấc ngủ 6 - 8 giờ trong ngày, người cao tuổi thì ít hơn và trẻ nhỏ thì dài hơn.

- Giữ môi trường không khí trong nhà và nơi làm việc sạch sẽ, thoáng mát nhằm khử sạch vi khuẩn, vi rút là mầm mống gây nên bệnh lý hô hấp nhiễm khuẩn, tránh tiếp xúc với môi trường nhiều khói bụi, độc hại.

- Tập thể dục đều đặn, phù hợp sức khỏe.

Khi có dấu hiệu mắc bệnh hô hấp, người bệnh cần đi khám để có chỉ định điều trị kịp thời, tuyệt đối không được tự ý mua thuốc tự điều trị hoặc điều trị dựa vào đơn thuốc cũ.

 

Mai Hoa

 

 

Thông tin mới nhất
  • Đang truy cập: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tháng hiện tại: 1
  • Tổng lượt truy cập: 1
Đăng nhập